SKKN Tạo sự hứng thú để phát triển kỹ năng đọc cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 2 (GV: Tống Thị Minh Phượng - Năm học 2022-2023)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Tạo sự hứng thú để phát triển kỹ năng đọc cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 2 (GV: Tống Thị Minh Phượng - Năm học 2022-2023)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 2 1. Lý do chọn biện pháp .................................................................................... 2 2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 5 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ........................................................................ 5 1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 5 2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 6 2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực đọc của học sinh lớp 2. ................. 6 2.2. Kết quả, hạn chế và nguyên nhân .............................................................. 7 3. Các biện pháp ................................................................................................ 8 3.1. Tổ chức trò chơi học tập tạo sự hứng thú cho học sinh............................. 8 3.1.1. Sử dụng trò chơi vào trong hoạt động khởi động ................................... 8 3.1.2. Sử dụng trò chơi vào trong hoạt động luyện đọc câu ............................. 9 3.1.3. Sử dụng trò chơi vào trong hoạt động luyện đọc đoạn, bài ................ 12 3.1.4. Sử dụng trò chơi vào trong bài ôn tập giữa học kì, cuối học kì .......... 14 3.2. Phối hợp với cha mẹ học sinh tăng cường luyện đọc cho các em tại nhà ..... 16 3.3. Đổi mới hình thức thi đua, khen thưởng .................................................. 16 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................... 17 1. Kết quả ........................................................................................................ 17 2. Ứng dụng ..................................................................................................... 19 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 19 1. Kết luận ....................................................................................................... 19 2. Kiến nghị ..................................................................................................... 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 22 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Ngôn ngữ là công cụ của lời nói và tư duy. Dạy học tiếng Việt ở trường Tiểu học trước hết là dạy cho học sinh có khả năng sử dụng công cụ ấy một cách hiệu quả nhất trong học tập và đời sống. Trong tiếng Việt, kỹ năng đọc có vị trí vô cùng quan trọng đối với học sinh. Bởi vì, khi học sinh đọc đúng, đọc tốt sẽ giúp các em hiểu nhanh hơn nội dung bài học, khi đó các em trả lời tốt các câu hỏi và làm bài tập trong bài. Trong các môn học khác, ví dụ như môn Toán việc đọc tốt, đọc đúng sẽ giúp các em hiểu nội dung bài toán, xác định đúng câu hỏi, những dữ liệu bài toán để từ đó có thể giải đúng các yêu cầu bài tập. Trong môn Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội,... đọc đúng giúp các em có thể hiểu được nội dung tình huống, yêu cầu của bài để nghĩ ra phương pháp giải quyết tính huống, cách xử lí phù hợp với tình huống trong bài. Qua môn Lịch sử, Địa lí việc đọc tốt, đọc đúng, học sinh biết được những tri thức văn hóa của dân tộc, giá trị truyền thống tốt đẹp của ông cha.... Qua đó, tình cảm thẩm mỹ được nâng cao, quá trình nhận thức có chiều sâu hơn. Đọc đúng, đọc hay cũng là kĩ năng của ngôn ngữ văn học có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, nâng cao đạo đức cho người học sinh. Quan sát các em trong suốt quá trình luyện đọc, tôi thấy nhiều em không chú ý khi nghe bạn đọc, có nhiều em chủ quan chưa đến lượt đọc của mình nên không tập trung, hay xao nhãng, làm việc riêng. Do đó, năng lực đọc của học sinh tiến bộ rất chậm. Điều đó làm tôi trăn trở tìm ra các giải pháp nhằm thu hút, tạo sự hưng phấn trong giờ đọc với mong muốn cải thiện được năng lực đọc cho các em. Chính vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu và vận dụng giải pháp Tạo sự hứng thú để phát triển kỹ năng đọc cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập môn Tiếng Việt lớp 2 3 2. Mục đích nghiên cứu Qua phân tích những hạn chế của phương pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh mà bản thân thường làm, từ đó tác giả tìm ra các giải pháp giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc và hứng thú hơn trong tiết học phân môn Đọc, tập trung học tập, chủ động lĩnh hội kiến thức để phát triển năng lực đọc. Việc áp dụng giải pháp sẽ góp phần nâng cao kỹ năng đọc và tạo sự hứng thú cho học sinh trong phân môn Đọc nói riêng, nâng cao chất lượng giáo dục học sinh nói chung. Thông qua nghiên cứu, vận dụng giải pháp, bản thân giáo viên sẽ nâng cao năng lực sư phạm, tích cực cải tiến phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh, đáp ứng mục tiêu của Chương trình GDPT 2018. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Tìm hiểu thực trạng năng lực đọc của học sinh khối lớp 2. Học sinh lớp 2 có khả năng chú ý, tập trung còn kém. Khi đứng trước lớp, nhiều em đọc còn nhỏ do chưa tự tin, các em còn rụt rè, nhút nhát. Một số học sinh phát âm còn ngọng nghịu. Bên cạnh việc phát âm của học sinh thì việc đọc đúng yêu cầu cần đạt của văn bản của học sinh vẫn chưa nhiều, nhiều em chưa biết cách đọc ngắt, nghỉ đúng chỗ, đúng dấu câu. Những điều này dẫn đến kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kỹ năng đọc, chưa nắm được công cụ của việc lĩnh hội tri thức, tư tưởng tình cảm chứa trong văn bản. Đồng thời dẫn đến việc các em sẽ không thích thú khám phá văn bản, nhàm chán trong việc học tập, lĩnh hội cái hay, cái đẹp của văn học. 3.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hứng thú để phát triển năng lực đọc của học sinh Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đọc và sự hứng thú của học sinh là do học sinh chưa hình thành được thói quen đam mê đọc sách, chưa có khả 4 năng liên kết ý và câu sao cho liền mạch và trôi chảy. Đặc biệt, do cách tổ thức tổ chức luyện đọc thông thường (gọi đọc cá nhân, đọc theo nhóm, đọc từng câu, đọc theo đoạn, ) nhiều sẽ gây nhàm chán, học sinh không có hứng thú với việc đọc. Đa số các em học sinh còn chưa tập luyện được thói quen tập trung chú ý khi đọc thầm. Bên cạnh đó, học sinh chỉ được luyện đọc nhiều trên lớp, về nhà nhiều gia đình chưa quan tâm luyện đọc cho các em. Phụ huynh chưa nắm được cách truyền tải cho con về cách đọc đúng yêu cầu văn bản, đọc diễn cảm lời nhân vật, đọc ngắt nghỉ - hơi đúng, cách cảm nhận ý nghĩa, cái đẹp của văn bản nên gặp khó khăn trong việc hỗ trợ con học tập ở nhà. 3.3. Đề xuất và thực nghiệm các giải pháp Với mong muốn giúp học sinh tạo sự hứng thú hơn trong tiết Đọc môn Tiếng Việt để phát triển kỹ năng đọc, giúp học sinh tập trung hơn khi học tập, lĩnh hội kiến thức, tôi nhận thấy rằng, cần phải thay đổi hình thức tổ chức dạy để học sinh thấy mới lạ, hào hứng hơn trong các tiết học, học sinh được chủ động nhiều hơn. Vì vậy, tôi đã sử dụng các trò chơi, để thay đổi hình thức tổ chức luyện đọc, tạo không khí lớp thoải mái mà vẫn phát triển được kỹ năng đọc của học sinh qua các hoạt động trong bài học. Tùy theo mỗi bài thuộc thể loại văn bản nào thì tôi sẽ chủ động, linh hoạt áp dụng, để mỗi bài các em được tiếp cận mới, được thay đổi nội dung hoạt động, các em sẽ thích thú khi đến tiết học. Ứng dụng các giải pháp này trong dạy học giúp giáo viên có thể kiểm soát, bao quát tất cả học sinh trong lớp, phát hiện những em có lỗi khi đọc và khắc phục, sửa lỗi ngay cho các em. Việc lồng ghép các trò chơi sẽ giúp em thấy thoải mái hơn khi đọc, các em sẽ nghĩ rằng mình đang chơi một trò chơi mà không áp lực khi học đọc, ngại ngùng khi chia sẻ - “học mà chơi, chơi mà học” và từ đó tạo nên hiệu quả trong một tiết học. 5 Ngoài ra, việc tăng cường phối kết hợp với phụ huynh trong hoạt động dạy học ở nhà cũng giúp các em nâng cao kỹ năng đọc, đọc hiểu nhanh nội dung bài, nắm vững kiến thức hơn. Giáo viên có sự đổi mới hình thức thi đua, khen thưởng những học sinh đọc trôi chảy, đọc hay hoặc có sự tiến bộ trong kỹ năng đọc để động viên, khích lệ học sinh học tập, trau dồi và phấn đấu hơn trong học tập. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Sự hứng thú và kỹ năng đọc đối với văn bản của học sinh lớp 2. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Thời gian: Từ tháng 09 năm 2021 đến tháng 04 năm 2022; - Địa bàn nghiên cứu: Tại đơn vị công tác. - Nội dung nghiên cứu: Đề xuất và vận dụng giải pháp tạo sự hứng thú để phát triển năng lực đọc cho học sinh lớp 2 trong tiết đọc môn Tiếng Việt thông qua một số trò chơi học tập. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp đọc sách, nghiên cứu tài liệu; - Phương pháp quan sát; - Phương pháp điều tra; - Phương pháp luyện tập, thực hành; - Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Đọc là một trong các phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học (thuộc môn Ngữ văn trong Chương trình giáo dục phổ thông). Đặc điểm và mục tiêu 6 được nêu rõ trong Chương trình giáo dục phổ thông (môn Ngữ văn- ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Về đặc điểm môn học: “Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha,... Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời”. Có thể nói, môn Ngữ văn (Tiếng Việt) nói chung, tiết đọc nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ sự học của con người, nhất là đối với học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học. Trong tất cả các năng lực ngôn ngữ, kỹ năng đọc lại chiếm một vị trí quan trọng trong việc hình thành và phát triển các năng lực khác như toán, khoa học, trải nghiệm, ngôn ngữ và đặc biệt là năng lực giao tiếp. Rèn luyện kỹ năng đọc tốt chính là chìa khóa để học sinh mở ra những cánh cửa tri thức bao la. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực đọc của học sinh lớp 2. Với học sinh khối lớp 2, các em bắt đầu bước sang giai đoạn đọc nhanh đọc đúng đọc lưu loát, trôi chảy từ đó cũng yêu cầu cao hơn trong đọc diễn cảm, hiểu được được nội dung, tình cảm của bài. Nhiều em đọc tốt, to, rõ ràng và đạt yêu cầu, song bên cạnh đó, còn một số em thì vẫn còn một số em đọc 7 còn chậm, đọc chưa lưu loát, chưa biết ngắt nghỉ đúng dấu câu, phát âm chưa rõ. Các em cũng lúng túng, các em cũng thiếu tự tin trong việc thể hiện giọng đọc của mình hoặc chưa biết cách thể hiện giọng đọc như thế nào cho phù hợp. 2.2. Kết quả, hạn chế và nguyên nhân Để đánh giá về sự hứng thú, tập trung học tập và kỹ năng đọc của học sinh, tôi tiến hành khảo sát thời điểm đầu năm 35 em học sinh lớp 2 mà tôi là giáo viên chủ nhiệm. Kết quả thu được như sau Bảng 1: Bảng số liệu thống kê sự hứng thú, tập trung của học sinh trong giờ Đọc thời điểm đầu năm HS hào hứng, tích HS chưa hào hứng, Biểu HS chán nản trong cực trong giờ Tập thích thú với giờ Tập hiện giờ giờ Tập đọc đọc đọc Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Chỉ (HS) (%) (HS) (%) (HS) (%) số 13 37,1 14 40 8 22,9 Nhìn bảng số liệu, tôi thấy tỉ lệ học sinh hào hứng, tích cực trong giờ tập đọc rất thấp (28,5%). Điều này dẫn đến kết quả kỹ năng đọc của học sinh bị hạn chế. Cụ thể: Bảng 2: Bảng số liệu thống kê khả năng đọc của học sinh trong giờ Đọc Kỹ Đọc to, rõ ràng, trôi Đọc nhỏ, chưa lưu Đọc chậm, phát năng chảy và có biểu cảm loát âm sai Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Chỉ số (HS) (%) (HS) (%) (HS) (%) 11 31,4 16 45,7 8 22,9 8 Với kết quả khảo sát như trên, bản thân tôi nhận thấy chất lượng đọc văn bản của các em còn thấp (tỉ lệ chưa đạt yêu cầu chiếm gần 2/3 tổng số học sinh) và tôi thực sự rất băn khoăn về kết quả này. Tại sao kết quả lại thấp như vậy, tôi tìm hiểu nguyên nhân thông qua việc phỏng vấn học sinh, trao đổi với đồng nghiệp, quan sát thực tế hàng ngày trên lớp và nghiên cứu tài liệu. Tôi nhận thấy, sở dĩ kỹ năng đọc của các em còn thấp và sự thích thú tìm hiểu văn bản còn chưa nhiều là do các em không mấy hào hứng với giờ tập đọc. Chính vì vậy, để tạo sự mới mẻ, hứng thú cho HS trong giờ tập đọc, nâng cao kỹ năng đọc và tôi thường thay đổi các hình thức trong các hoạt động học qua các trò chơi. Thông qua việc học mà chơi, chơi mà học nhằm kích thích sự tập trung, chú ý của học sinh đồng thời tiếp thu kiến thức một cách tự giác và hứng thú. Thông qua trò chơi học tập, học sinh còn được phát triển cả về trí tuệ, nhân cách giúp cho công việc học Tiếng Việt thêm nhẹ nhàng và hiệu quả. 3. Các biện pháp 3.1. Tổ chức trò chơi học tập tạo sự hứng thú cho học sinh 3.1.1. Sử dụng trò chơi vào trong hoạt động khởi động Để học sinh hào hứng vào tiết học mới, tôi thường tổ chức một số trò chơi nho nhỏ như Trò chơi: Ai tinh mắt. Tôi lồng ghép đưa nội dung của bài học hôm trước vừa hệ thống, kiểm tra lại kiến thức bài học trước vừa giúp học sinh rèn kĩ năng đọc thầm, quan sát nhanh để tra tìm thông tin cần thiết trong văn bản đã được đọc. Học sinh tham gia chơi vừa phải thuộc, ghi nhớ nội dung của bài hôm trước vừa phải tư suy sắp xếp các câu cho đúng. VD: Khổ thơ 1 trong bài “Cô giáo lớp em” (SGK Tiếng Việt lớp 2, trang 40, 41, tập 1). Giáo viên chuẩn bị 2 cột A và B 9 CỘT A CỘT B Sáng nào “Chào cô ạ!” Cũng thấy em đến lớp Đáp lời cô đến rồi Cô mỉm cười thật tươi. HS lần lượt tham gia chơi theo từng cặp ghép nội dung ở cột A với ý ở cột B được câu thơ hoàn chỉnh. GV hướng dẫn HS trong lớp lắng nghe, kiểm tra đánh giá và ghi điểm cho từng người. Kết thúc cuộc chơi, giáo viên nhận xét chung và biểu dương những HS đọc tốt, đọc nhanh và đọc đúng câu thơ. Học sinh quan sát nội dung trong cột Học sinh tham gia trò chơi để ghép đúng câu thơ Trò chơi này, tôi cũng có thể thay đổi khi áp dụng trong hoạt động luyện đọc nâng cao trong những bài yêu cầu học sinh học thuộc, bằng trò chơi này HS có thể nhớ và học thuộc ngay câu thơ ở trên lớp, giúp cho học sinh học thuộc bài thơ nhanh hơn. Thông qua trò chơi, học sinh được sử dụng và phối hợp nhiều cơ quan (tai, mắt, miệng) hoạt động để tham gia trò chơi (tai nghe, mắt nhìn, miệng đọc) học sinh vừa rèn khả năng phản ứng nhanh, tư duy nhạy bén để tìm ra đáp án 3.1.2. Sử dụng trò chơi vào trong hoạt động luyện đọc câu Ở hoạt động này tôi “biến tấu” từ đọc nối tiếp câu thành một Trò chơi: 10 “Tia chớp”. Học sinh tham gia phải theo dõi nội dung bài đọc và xác định nội dung mình cần đọc. Giáo viên phổ biến luật chơi và làm trọng tài để quan sát, theo dõi. Giáo viên mời lần lượt từng nhóm đọc tiếp sức và bấm giờ tính thời gian mỗi nhóm, phân nhiệm vụ cho các bạn học sinh khác dưới lớp cùng theo dõi phát hiện lỗi sai của bạn để sau đọc tiếp sức xong, giáo viên tổng kết lại nhóm đọc hay, đọc nhanh và lưu loát hơn và tìm ra nhóm đọc tốt hơn sẽ giành chiến thắng. Luật chơi: Khi nghe “Bắt đầu”, người đầu tiên trong nhóm phải đọc tên bài và câu thứ nhất của bài một cách rõ ràng, chính xác và nhanh giống như tia chớp. Dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, người tiếp theo mới được đọc tiếp câu số 2.... Cứ như vậy cho đến người cuối cùng của nhóm. Nếu chưa hết bài, câu tiếp theo lại đến người số 1 đọc, người số 2 đọc... cho đến hết bài thì dừng. VD đọc tia chớp trong văn bản: Tớ nhớ cậu (SGK Tiếng Việt lớp 2, trang 82, tập 1) HS 1: Kiến là bạn thân của Sóc. HS 2: Hằng ngày, hai bạn thường rủ nhau đi học. HS 3: Thế rồi nhà Kiến chuyển đến một khu rừng khác..... 11 Tiếp tục đến bạn cuối cùng của nhóm mà chưa hết bài lại quay trở lại bạn HS1 đọc tiếp VD đọc tia chớp trong thơ: Cái trống trường em (SGK Tiếng Việt lớp 2, trang 48, 49, tập 1). Sau khi phổ biến luật chơi, giáo viên làm trọng tài. Từng nhóm 4 người lần lượt đọc tiếp sức như sau: HS1: Cái trống trường em HS2: Mùa hè cũng nghỉ HS3: Suốt ba tháng liền HS4: Trống nằm ngẫm nghĩ. HS5: Buồn trông hả trống HS2:Trong những ngày hè HS3:Bọn mình đi vắng HS4:Chỉ còn tiếng ve?... Giáo viên bấm thời gian và ghi lại số phút đọc xong toàn bài của từng nhóm, học sinh dưới lớp nhận xét bạn, sau đó công bố kết quả, tuyên dương nhóm thắng cuộc. 12 Khi tham gia trò chơi, học sinh vừa được “chơi” có sự thi đua với nhau hơn trong học tập, hào hứng theo dõi bạn đọc, vừa nâng cao khả năng đọc nhanh và đúng của học sinh. Qua đó, rèn luyện thao tác nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp nhịp nhàng giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc. 3.1.3. Sử dụng trò chơi vào trong hoạt động luyện đọc đoạn, bài Tôi thay đổi hình thức trò chơi mà vẫn hướng đến việc rèn kỹ năng đọc nhanh và tư duy nhạy bén khi học thuộc những câu thơ trong bài. HS được rèn luyện trí nhớ và phản ứng nhanh, kịp thời. Tôi đưa ra Trò chơi: “Truyền tin bắt sóng”. Giáo viên chọn các bài thơ trong chương trình yêu cầu học thuộc lòng, giáo viên làm trọng tài, chia nhóm, phổ biến luật chơi và tổ chức cho học sinh sẽ đọc truyền tin; hướng dẫn cách đọc bài. Đại diện hai nhóm bốc thăm hoặc oẳn tù tì để lựa chọn nhóm thực hiện trước. Giáo viên phân công nhiệm vụ cho học sinh dưới lớp theo dõi và phát hiện những lỗi sai, bạn đọc chưa đúng. Giáo viên có nhiệm vụ quan sát các nhóm và phân định nhóm giành chiến thắng Cách thức tổ chức chơi như sau: Đại diện 1 thành viên trong nhóm A đọc trước một câu thơ theo quy định của trọng tài rồi chỉ định thật nhanh “truyền tin” cho một bạn bất kỳ của nhóm B. Bạn được chỉ định (bắt sóng) phải đứng dậy thật nhanh để đọc tiếp đoạn thơ của bài; nếu đọc tốt và trôi chảy thì sẽ được chỉ định ngay 1 bạn ở nhóm A đọc tiếp những đoạn thơ tiếp theo... cứ như vậy cho đến hết bài. Trường hợp người bị chỉ định (được truyền tin) chưa đọc ngay (vì chưa thuộc, quên mất câu thơ) hoặc đọc nhầm câu thơ khác, các bạn ở nhóm “truyền tin” sẽ đếm từ 1 đến 5 (tùy vào quy định của giáo viên hoặc trọng tài), sau khi đếm xong mà bạn đó vẫn không đọc được thì phải đúng yên tại chỗ (bị nhiễu sóng) và không được tham gia chơi ở lượt chơi tiếp nữa; người đã “truyền tin” 13 trước đó sẽ được chỉ định một lần nữa để bạn khác trong nhóm bạn đứng lên đọc tiếp. VD: Bài “Thả diều” (SGK Tiếng Việt lớp 2, trang 94, 95, tập 1) Học sinh nhóm A đọc trước: “Cánh diều no gió Sáo nó thổi vang Sao trời trôi qua Diều thành trăng vàng.” Sau đó truyền tin cho 1 bạn nhóm B bắt sóng, bạn nhóm B phải đọc được đoạn thơ tiếp theo “Cánh diều no gió Tiếng nó trong ngần Diều hay chiếc thuyền Trôi trên sông Ngân.” 14 Nếu bạn nhóm B đọc đúng sẽ truyền tin lại cho 1 nhóm A, bạn này phải đọc đoạn thơ tiếp theo.....Sau khi kết thúc bài thơ, nhóm nào có nhiều người bị nhiễu sóng là nhóm thua cuộc. Trọng tài sẽ tuyên dương đội thắng cuộc. Sau mỗi lượt chơi, học sinh được rèn luyện phản ứng nhanh khi bạn mời đọc hoặc khi nhận “truyền tin” nội dung tiếp theo. Bên cạnh đó, học sinh được nâng cao sự tập chung chú ý vào bạn đọc và nội dung bài, dù các em không được gọi nhưng vẫn phải theo dõi bài để biết nội dung đọc tiếp theo hoặc chuẩn bị nội dung nếu bạn truyền tin đến. 3.1.4. Sử dụng trò chơi vào trong bài ôn tập giữa học kì, cuối học kì Giáo viên có thể thay hình thức đọc lần lượt từng bài bằng Trò chơi: Đọc gợi ý, đoán tên bài . Trò chơi này học sinh sẽ được rèn kĩ năng nghe, kĩ năng đọc đúng và rõ ràng một đoạn văn trong bài, một đoạn thơ trong các bài học thuộc lòng, kĩ năng tư duy nhạy bén, khả năng nhớ lâu khi nghe bài Tập đọc đã học. Học sinh được rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, tập trung sự chú ý; tập đọc thành tiếng rõ ràng, rành mạch đoạn văn tìm được và phải thực hiện tìm nhanh các bài đọc đã học để xác định nội dung đó. Giáo viên chia lớp làm hai nhóm lớn, giáo viên làm trọng tài. Mỗi nhóm chọn học sinh đọc tốt chuẩn bị 1 đoạn của bài thơ, bài văn, sau đó đọc cho nhóm bạn nghe đoán. Nhiệm vụ của nhóm nghe và đoán xem đó là tên bài đọc nào đã học, sau đó học sinh ghi vào tờ giấy hoặc bảng phụ mà giáo viên phát cho từng nhóm. Tương tự ngược lại, nhóm ghi xong tên bài, sẽ đọc 1 đoạn bài thơ, bài văn để nhóm bạn đoán. Giáo viên nên giới hạn cho học sinh chuẩn bị những bài đã học trong sách giáo khoa vừa hỗ trợ học sinh lại bao quát được lớp, học sinh cũng dễ tìm được các bài đọc để đưa ra gợi ý cho nhóm bạn. Sau đây là một ví dụ minh họa cho trò chơi trong tuần ôn tập tiếng Việt cuối học kì 1 15 (Đọc) gợi ý (Đoán) tên bài Nhóm A Nhóm B Ngày xưa, có hai chị em Nết và Na mồ côi cha Trò chơi của bố mẹ, sống trong ngôi nhà nhỏ bên sườn núi. Nhóm B Nhóm A 2. Lặng rồi cả tiếng con ve Thương ông Con ve cũng mệt vì hè nắng oi Nhóm A Nhóm B 3. Năm nay, bố đi công tác xa. Đến bữa ăn, nhìn Sự tích hoa tỉ muội hai bàn tay của Hường lễ phép đón bát cơm, mẹ lại nhớ đến lúc hai bố con chơi với nhau. Mẹ nghĩ, Hường không biết rằng ngay trong trò chơi ấy, bố đã dạy con một nết ngoan. Nhóm B Nhóm A 4. Ông bị đau chân Chơi chong chóng Nó sưng nó tấy Đi phải chống gậy Khập khiễng, khập khà,.. Nhóm A Nhóm B 5. An yêu thích những chiếc chong chóng giấy. Mẹ Qua trò chơi, các em được hệ thống lại một phần nội dung bài tập đọc, khả năng phản ứng nhanh nhẹn và được khắc sâu các kiến thức bài học hơn. Học sinh tham gia chơi cũng sẽ hào hứng với tiết học, các em được cùng làm việc, cùng chơi, cùng học tập. 16 3.2. Phối hợp với cha mẹ học sinh tăng cường luyện đọc cho các em tại nhà Nhận thức rõ tầm quan trọng của kỹ năng đọc, có kỹ năng đọc tốt sẽ giúp các em tham gia trò chơi học tập chủ động hơn, dễ dàng hơn, nắm bắt và hiểu ý của bài nhanh hơn. Khi học sinh đọc hiểu nội dung bài thì sẽ tạo nên sự hứng thú hơn trong học tập. Để có sự lĩnh hội đầy đủ và trọn vẹn nhất thì việc ôn tập, chuẩn bị bài học trước khi đến lớp là rất cần thiết. Vì vậy, ngoài hoạt động trên lớp của giáo viên thì sự phối hợp giữa phụ huynh khi ở nhà để rèn kỹ năng đọc cho học sinh cũng rất cần thiết. Thời gian ở nhà phụ huynh dành thời gian cho học sinh luyện đọc lại qua hình thức quay video, file ghi âm học sinh luyện đọc ở nhà rồi gửi lên zalo. Giáo viên nhận xét, đánh giá và tư vấn thêm cách đọc để từ đó phụ huynh có sự định hướng, chỉ dẫn các con cụ thể hơn. 3.3. Đổi mới hình thức thi đua, khen thưởng Để động viên, khích lệ học sinh tham gia các hoạt động trò chơi, tích cực luyện đọc trên lớp cũng như ở nhà tôi thường đưa ra những hình thức thi đua, khen thưởng cho những học sinh tham gia tích cực, có sự tiến bộ trong học tập. Tuyên dương học sinh đạt được nhiều Khen thưởng học sinh được bằng sicker nhất trong tuần voucher yêu thương trong các hoạt động 17 Trong quá trình học tập, mỗi khi các em có sự tiến bộ về kỹ năng đọc, tích cực hơn trong các giờ học, tôi luôn động viên các em bằng các tấm thẻ, sicker nhỏ xinh các em sẽ lưu giữ trong cuốn sổ nhỏ của mình. Đến cuối mỗi tuần, mỗi tháng học sinh sẽ tổng hợp các tấm thẻ và sicker, bạn nào càng nhiều thẻ và sicker thì sẽ được thưởng bằng các món quà là đồ dùng học tập, được ghi tên trên bảng danh dự của lớp hoặc là được cô giáo gửi thư khen đến cha mẹ các em về sự tiến bộ trong kỹ năng đọc. Học sinh đạt thành tích tốt trong tháng được giáo viên gửi thư khen III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 1. Kết quả Qua việc lồng ghép các trò chơi trong phân môn Đọc, tôi thấy nhiều em tiến bộ rõ rệt. Ở những tiết học đầu nhiều học sinh chưa quen, chưa tự tìm ra được cách đọc và còn ngại đọc. Nhưng dần các em đều hứng thú và mong muốn được đọc thể hiện. - Về kỹ năng đọc: + Học sinh đọc tốt hơn, to, rõ ràng hơn, số học sinh đọc ngọng giảm, các em hứng thú luyện đọc. Đa số các em đều sửa được các lỗi sai khi đọc do 18 phương ngữ vì được giáo viên phát hiện ngay và hướng dẫn sửa, nhiều em có ý thức tự chỉnh sửa phát âm khi đọc. Học sinh được nâng cao rõ rệt về khả năng đọc nhanh, đọc đúng, đọc to, rõ ràng. Một số em đã có thể đọc trôi chảy không đọc ngập ngừng + Học sinh có ý thức học thuộc các bài thơ trong chương trình yêu cầu học thuộc, HS nhớ lâu hơn nội dung bài đọc. Các em được nâng cao khả năng ghi nhớ bài học, tư duy nhanh, nhạy bén để trả lời. Số học sinh đọc chưa đạt yêu cầu đã giảm rất nhiều, số học sinh đọc tốt đã được tăng lên. Học sinh thấy hứng thú có ý thức học tốt hơn, say mê học tập hơn, giờ học luôn trôi qua một cách vui tươi, nhịp nhàng. - Về kỹ năng giao tiếp: Học sinh tự tin hơn khi đọc bài vì các em cảm thấy mình đang “chơi” nên sẽ không bị áp lực, sợ sệt, lúng túng khi đọc bài. Học sinh mạnh dạn chia sẻ, nhận xét cho nhau. Không những thế, nhiều em còn biết giúp đỡ các bạn trong lớp, phối hợp với nhau khi làm hoạt động nhóm. - Về kỹ năng cảm thụ văn học: Trong giờ đọc tôi quan sát thấy nhiều em khi chưa được gọi đọc, cũng có ý thức tự giác đọc nhẩm và thể hiện rõ sắc thái biểu hiện trên mặt. Điều đó chứng tỏ các em thích đọc và hiểu nội dung nghệ thuật của bài. Học sinh được đọc, được tìm hiểu sẽ thấy được những cái hay, cái đẹp của văn bản. Khi các em hứng thú với với việc đọc tác phẩm văn chương thì năng lực cảm thụ văn học của các em cũng được nâng cao hơn Dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên học sinh đã tự say mê tìm tòi và khám phá cũng như chiếm lĩnh tri thức mới. Học sinh hiểu bài sâu, nhớ kỹ bài học, lưu giữ mãi hình ảnh về giờ học. Học sinh hiểu biết về nhau nhiều hơn, gắn bó đoàn kết và có trách nhiệm với nhau. Các em được thay đổi trạng thái tinh thần, cảm xúc, bớt mệt mỏi, từ đó sẽ nhiều cảm hứng và hiệu quả hơn với các bài học khác, môn học khác. Đây là thành công lớn nhất của tôi trong quá trình tạo hứng thú cho các em học phân môn đọc. Các bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp 19 đến thời điểm cuối năm học của 35 học sinh Bảng 3. Bảng số liệu thống kê sự hứng thú, tập trung của học sinh sau khi áp dụng biện pháp vào thời điểm cuối năm học. HS hào hứng, tích HS chưa hào hứng, HS chán nản Biểu cực trong giờ Tập thích thú với giờ trong giờ giờ Tập hiện đọc Tập đọc đọc Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Chỉ số (HS) (%) (HS) (%) (HS) (%) 35 100 0 0 0 0 Bảng 4. Bảng số liệu thống kê học sinh cải thiện khả năng đọc sau khi áp dụng các biện pháp vào thời điểm cuối năm học. Kỹ Đọc to, rõ ràng, trôi Đọc nhỏ, chưa lưu Đọc chậm, phát năng chảy và có biểu cảm loát âm sai Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Chỉ số (HS) (%) (HS) (%) (HS) (%) 28 80 5 14,2 2 5,8 2. Ứng dụng Với biện pháp này tôi đã áp dụng với lớp tôi trực tiếp giảng dạy là lớp 2A1 tại đơn vị tôi công tác. Tôi nhận thấy với biện pháp này có thể áp dụng cho tất cả các khối lớp học, trong các trường học trên toàn tỉnh và hơn hết có thể ứng dụng trên các vùng miền. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Sau khi trình nghiên cứu, vận dụng và hướng dẫn học sinh thực hiện biện pháp, tôi nhận thấy, để tạo sự hứng thú, nâng cao kỹ năng đọc cho học sinh cần 20 quan tâm đổi mới hình thức tổ chức giờ đọc, phối hợp tốt với cha mẹ học sinh để các em có thời gian luyện đọc tại nhà. Đồng thời, giáo viên cần đổi mới cách đánh giá, khen ngợi học sinh để các em thích thú, có động lực tốt thực hiện nhiệm vụ học tập. Muốn thực hiện được như vậy, bản thân mỗi giáo viên cần nắm vững nội dung bài học, mục tiêu tiết học, có sự chuẩn bị chu đáo. Trong từng giờ học, giáo viên có khả năng bao quát tốt học sinh cả lớp, phát hiện tâm lý các em có thích và hào hứng hay không, quan sát từng biểu cảm của các em khi tham gia hoạt động học để điều chỉnh hình thức tổ chức học phù hợp. Bên cạnh đó, mỗi giáo viên cũng cần nắm được những ưu điểm, hạn chế của từng em, giúp các em phát huy điểm mạnh, khắc phục được những hạn chế. Đồng thời, bản thân mỗi giáo viên cần luôn luôn coi trọng sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong mọi hoạt động của học sinh, trong đó có các hoạt động góp phần phát triển kỹ năng đọc cho học sinh. 2. Kiến nghị Trên đây là một số hiệu quả giải pháp mà tôi đã áp dụng trong lớp học sinh tôi dạy. Học sinh đọc tốt và hiểu bài đọc sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Từ đó, các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên. Để thực hiện được giải pháp này hiệu quả, bản thân tôi tự nhận thấy có một số vấn đề cần thiết và không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy nói chung và việc rèn kĩ năng đọc ở lớp 2 nói riêng đó là: Về phía nhà trường: Tổ chức các sân chơi về tiếng Việt để các em học sinh trong trường có dịp trau dồi, học hỏi lẫn nhau. Về phía tổ chuyên môn: Tổ chức nhiều hơn các chuyên đề, các buổi họp tổ chuyên môn về công tác giảng dạy Tiếng Việt để giáo viên được giao lưu và học hỏi.
Tài liệu đính kèm:
skkn_tao_su_hung_thu_de_phat_trien_ky_nang_doc_cho_hoc_sinh.pdf



