SKKN Phát triển kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 (GV: Đặng Kim Thu - Trường TH Nam Hồng)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Phát triển kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 (GV: Đặng Kim Thu - Trường TH Nam Hồng)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẮC GIANG TRƯỜNG TIỂU HỌC NAM HỒNG . BIỆN PHÁP Phát triển kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2 Họ và tên: Đặng Kim Thu Đơn vị: Trường Tiểu học Nam Hồng, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. GIÁO VIÊN DỰ THI XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG HIỆU TRƯỞNG Đặng Kim Thu Đỗ Thị Phương TP. Bắc Giang, tháng 10 năm 2022 1 MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................... 2 1. Lý do chọn biện pháp ................................................................................ 2 2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................ 4 5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 4 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ...................................................................... 4 1. Cơ sở lý luận ............................................................................................. 4 2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 5 2.1. Thực trạng .............................................................................................. 5 2.2. Nguyên nhân .......................................................................................... 8 3. Các biện pháp ............................................................................................ 8 3.1. Biện pháp 1: Làm phong phú vốn từ cho học sinh và động viên học sinh tích cực đọc sách, báo, truyện, tìm hiểu về cuộc sống xung quanh ...... 9 3.2. Biện pháp 2: Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi ............................................. 11 3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy .............................. 14 3.4. Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh viết các câu văn giàu hình ảnh ...... 15 3.5. Biện pháp 5: Tăng cường chấm, chữa, nhận xét bài viết của học sinh 17 3.6. Nêu gương, tuyên dương, khen ngợi học sinh ..................................... 18 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................. 20 1. Kết quả khi thực hiện biện pháp ............................................................. 20 2. Ứng dụng ................................................................................................. 23 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 23 1.Kết luận .................................................................................................... 23 2. Kiến nghị ................................................................................................. 25 V. TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 27 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Trong chương trình tiểu học môn Tiếng Việt là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng, chiếm thời lượng nhiều nhất so với các môn học khác. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, Luyện viết đoạn văn có vai trò hết sức cần thiết và là nền tảng để học sinh học tập tốt môn Tiếng Việt. Nó giúp học sinh có năng lực sử dụng Tiếng Việt để học tập, giao tiếp; trau dồi ứng xử có văn hoá; bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, lành mạnh qua nội dung bài dạy. Học sinh viết được đoạn văn hay cũng chính là học sinh học tốt môn Tiếng Việt. Để làm được một đoạn văn và bài văn, học sinh cần phải huy động các kiến thức về tập đọc, về từ và câu, về kiến thức đã học, về môi trường xung quanh, về vốn hiểu biết, Vì vậy viết được đoạn văn hay đòi hỏi tổng hợp các kiến thức mà học sinh đã học ở các môn khác. Viết được một đoạn văn hay là góp phần rèn cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Bên cạnh đó, học sinh có điều kiện tiếp cận vẻ đẹp của con người, của thiên nhiên, qua các bài văn, đoạn văn hay. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy đối tượng học sinh lớp 2, tôi nhận thấy phần lớn các em học môn này chưa thực sự tốt, viết đoạn văn còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, ngay từ đầu năm học, các em được làm quen với đoạn văn và được rèn viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu. Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các em còn lúng túng trong cách dùng từ đặt câu, liên kết câu trong đoạn, chưa biết mô tả lại những gì mình quan sát được, còn phụ thuộc rất nhiều vào phần gợi ý của mỗi bài do vậy hiệu quả bài viết của các em chưa cao và nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu. Để phát triển vốn từ cho học sinh, giúp học sinh biết lựa chọn từ ngữ và sử dụng một số biện pháp đã học vào việc viết văn. Để bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, tình cảm, rèn luyện sự chủ động, sáng tạo, những giá trị đạo đức tốt đẹp và góp phần hình thành nhân cách cho các em. Để học sinh viết được 3 đoạn văn hay cũng chính là học sinh học tốt môn Tiếng Việt và giúp các em phát triển toàn diện cả về kiến thức, kỹ năng, năng lực, phẩm chất. Với mong muốn được đóng góp kinh nghiệm nhỏ của mình trong việc hướng dẫn học sinh lớp 2 viết đoạn văn. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn: “Biện pháp phát triển kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2”. 2. Mục đích nghiên cứu Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học và tìm ra phương pháp tốt nhất để giúp học sinh viết đoạn văn tốt và học tốt môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, tâm hồn cho học sinh. Hình thành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp, khả năng sử dụng ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh. Giúp các em có vốn sống phong phú, có cái nhìn nhân văn với thế giới xung quanh. Giúp học sinh mạnh dạn, tự tin và hứng thú, yêu thích học môn Tiếng Việt. Thực tế trên lớp học và trong từng tiết Tiếng Việt thì tôi thấy việc hứng thú viết đoạn văn của học sinh còn hạn chế. Đa số các em coi việc viết đoạn văn là nhiệm vụ bắt buộc chứ không phải sự yêu thích. Để đáp ứng với mục tiêu đào tạo của bậc tiểu học “Giáo dục con người phát triển toàn diện” và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp để nâng cao kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy viết đoạn văn ở trường tiểu học. Tìm hiểu thực trạng viết đoạn văn của học sinh từ đó đưa ra các nguyên nhân. Nghiên cứu nội dung và phương pháp dạy viết đoạn văn. Đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực viết đoạn văn cho học sinh. 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng: Biện pháp phát triển kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2. - Phạm vi: Học sinh lớp 2A5 tại đơn vị tôi đang công tác. Nội dung chương trình, sách Tiếng Việt lớp 2 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Thời gian: Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp điều tra, khảo sát. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, các em vừa chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập. Các em hiếu động, ham chơi, sự tập trung cho học tập và chú ý chưa cao. Tư duy của các em nặng về trực quan cụ thể, tư duy trừu tượng chưa phát triển. Do đó, khi tổ chức dạy học, giáo viên phải linh hoạt sáng tạo thì mới có hiệu quả. Như chúng ta đã biết, ở lớp 1 học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ tập nói hoặc viết câu có nội dung theo chủ đề bài học hoặc tìm tiếng nói có âm vần vừa học. Các em được ghép tiếng và nói những câu đơn giản, riêng lẻ có nội dung gần gũi với cuộc sống của các em hoặc ở các bài tập đọc. Đến lớp 2, các em đã phải viết đoạn từ 2 đến 3 câu rồi cao hơn từ 4 đến 5 câu kể về một sự việc đơn giản mình cũng chứng kiến (tham gia) hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh 5 các em. Viết đoạn văn mang tính tổng hợp và sáng tạo sử dụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển từ nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt. Viết đoạn văn còn đòi hỏi học sinh huy động kiến thức từ nhiều mặt (hiểu biết cuộc sống, tri thức văn hóa ) có liên quan đến đề bài. Viết đoạn văn là sản phẩm tổng hợp của vốn sống, vốn văn học, năng lực tư duy, giao tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo của cá nhân học sinh. Qua bài văn ta sẽ thấy được khả năng sử dụng Tiếng Việt, tri thức và hiểu biết về cuộc sống của học sinh. Để rèn luyện năng lực viết đoạn văn cho học sinh chúng ta phải giúp học sinh xác định được mục đích của đoạn viết thông qua việc tìm hiểu đề. Phải xác định được đề bài yêu cầu ta làm gì? Nói, viết về cái gì? Xác định được chủ đề của bài viết và duy trì chủ đề này trong suốt bài viết để đoạn văn không lan man bằng cách tìm ý, sắp xếp ý theo một trình tự nhất định, đồng thời phải chọn từ ngữ để dùng từ đặt câu cho chính xác, rõ ý, có hình ảnh, có cảm xúc. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng - Đầu năm học 2021 - 2022, tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 2A5. Qua quá trình giảng dạy ở lớp 2, tôi nhận thấy các em còn mắc các lỗi sau: + Vốn từ còn nhiều hạn chế. + Dùng từ đặt câu chưa phù hợp, câu không rõ nghĩa, câu không đủ thành phần, thừa thành phần. + Chưa biết sắp xếp các ý văn trong bài: ý văn lộn xộn, trùng lặp ý văn. + Lỗi dùng dấu câu: đặt dấu phẩy, dấu chấm sai vị trí và không dùng dấu câu trong bài. + Bài văn thiếu tính sáng tạo, chỉ trả lời câu hỏi gợi ý. 6 - Một số giáo viên trong quá trình dạy chưa thực sự coi trọng việc rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh. Cách dạy của giáo viên còn đơn điệu, còn lệ thuộc máy móc vào sách giáo viên. Giáo viên chưa có sự đầu tư nhiều vào chất lượng bài dạy, kiến thức về bài học còn nhiều hạn chế và bị bó hẹp trong tài liệu hướng dẫn. Sự sáng tạo cũng như linh hoạt của giáo viên chưa có hoặc có song chưa nhiều nên chưa cuốn hút được học sinh. Chính vì vậy chưa tập trung theo hướng mở nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh. - Khi dạy học sinh viết đoạn văn giáo viên chỉ cho học sinh trả lời miệng các câu hỏi ở phần gợi ý sau đó yêu cầu học sinh viết đoạn văn. Do vậy mà hiệu quả giờ dạy chưa cao, học sinh cũng không phát huy được khả năng sáng tạo cũng như phát triển được ngôn ngữ của mình. - Việc sửa lỗi khi viết đoạn văn cho học sinh chưa được chú trọng hoặc chỉ sửa một lần vì việc làm này mất rất nhiều thời gian. Thực trạng một số bài viết mắc lỗi của học sinh lớp 2A5: Bài viết của học sinh Đỗ Bảo Khánh, lớp 2A5. 7 Bài viết của học sinh Hoàng Phương Linh, lớp 2A5. Bài viết của học sinh Nguyễn Phương Chi, lớp 2A5. 8 Bảng tổng hợp các lỗi thường gặp Thời gian khảo sát: Giữa học kì I Lớp 2A5 – Tổng số HS: 35 em Số học sinh Các lỗi thường gặp Số lượng % Dùng từ đặt câu chưa phù hợp, câu không rõ nghĩa, 20 57,1 câu không đủ thành phần, thừa thành phần. Chưa biết sắp xếp các ý văn trong bài: ý văn lộn 16 45,7 xộn, trùng lặp ý văn. Lỗi dùng dấu câu: đặt dấu chấm, phẩy sai vị trí và 14 40 không dùng dấu câu trong bài. 2.2. Nguyên nhân - Năm học này thực hiện chương trình thay sách giáo khoa mới. Lên lớp 2 các em mới được làm quen với Luyện viết đoạn văn nên đó là một tiết học mới mẻ đối với các em. - Các em cảm nhận các bài đọc chưa được tốt, hiểu nội dung chưa sâu nên vốn từ còn hạn chế. - Học sinh viết văn một cách máy móc, dập khuôn, theo văn mẫu. - Khả năng tư duy cấu trúc đoạn văn còn hạn chế. - Đa số học sinh thích học Toán hơn là viết văn. - Thời lượng dành cho Luyện viết đoạn văn không nhiều, mỗi tuần chỉ có 1 tiết. 3. Các biện pháp Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp sau: Biện pháp 1. Làm phong phú vốn từ cho học sinh và động viên học sinh tích cực đọc sách, báo, truyện, tìm hiểu về cuộc sống xung quanh. 9 Biện pháp 2. Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi. Biện pháp 3. Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy. Biện pháp 4. Hướng dẫn học sinh viết các câu văn giàu hình ảnh. Biện pháp 5. Tăng cường chấm, chữa, nhận xét bài viết của học sinh. Biện pháp 6. Nêu gương, tuyên dương, khen ngợi học sinh. 3.1. Biện pháp 1: Làm phong phú vốn từ cho học sinh và động viên học sinh tích cực đọc sách, báo, truyện, tìm hiểu về cuộc sống xung quanh - Bổ sung vốn từ cho học sinh thông qua việc hệ thống lại từ ngữ theo chủ điểm ở các bài đọc, các bài luyện tập về từ và câu. - Để làm giàu thêm vốn từ cho học sinh tôi thường động viên các em tích cực đọc sách trong thư viện nhà trường, trong giá sách sưu tầm của lớp hoặc ở nhà các em. - Động viên các em mượn truyện về nhà đọc. Khuyến khích học sinh dành thời gian đọc hết các cuốn truyện, sau đó tóm tắt nội dung để kể lại cho bạn bè, cho bố mẹ, người thân nghe. - Khuyến khích các em dùng sổ tay để ghi chép lại những câu văn hay, những điều mới mẻ mình tìm hiểu được qua sách báo. - Dành thời gian tổ chức cho học sinh thi kể lại câu chuyện vừa đọc, vừa nghe trong những tiết hoạt động tập thể. - Trong các tiết đọc thư viện tôi chú ý chọn những cuốn truyện mới, đọc cho học sinh. Khơi gợi sự tò mò và tạo thói quen thích đọc sách cho các em. - Gợi ý các em quan sát thực tế, quan sát những sự vật quen thuộc xung quanh hoặc dựa vào những điều các em đã biết để mở rộng vốn từ theo chủ điểm. - Tổ chức các trò chơi tìm chữ. - Kể cho học sinh nghe các câu chuyện thực tế và câu chuyện xung quanh gần gũi với các em để các em liên hệ viết văn. - Phối hợp với phụ huynh học sinh rèn thêm các con viết văn ở nhà. 10 Các em học sinh lớp 2A5 đọc sách, truyện. 11 Phối hợp với phụ huynh học sinh rèn thêm các con viết văn ở nhà. 3.2. Biện pháp 2: Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi Theo dõi các bài Luyện viết đoạn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tôi nhận thấy, hầu như ở các bài văn kể và tả đều có các câu hỏi gợi ý dưới phần đề bài. Đây giống như phần gợi mở giúp học sinh đi đúng hướng. Tuy nhiên trong thực tế nhiều em học sinh chưa biết thế nào là trả lời đầy đủ ý. Các em trả lời câu hỏi ngắn gọn, thiếu một vài thành phần câu hoặc trả lời chưa rõ nghĩa. Để có thể hình thành đoạn văn trên cơ sở trả lời các câu hỏi gợi ý, tôi đã làm như sau: 12 - Thứ nhất, hướng dẫn học sinh làm miệng, trả lời miệng từng câu hỏi theo nhiều cách khác nhau, hướng cho học sinh trả lời phong phú theo ý hiểu của cá nhân mình, không nhất thiết phải theo khuôn mẫu hay giống thầy cô, các bạn. - Thứ hai, nhận xét, sửa chữa những câu trả lời chưa đúng, cung cấp và gợi ý để học sinh có thể chọn những từ ngữ để thay thế cho từ chưa hợp lý. - Thứ ba, sắp xếp các câu trả lời cho các câu hỏi gợi ý theo một trình tự nhất định để được một bài làm miệng hoàn chỉnh. - Cuối cùng, hướng dẫn học sinh chuyển ngôn ngữ nói thành ngôn ngữ viết, viết lại liền mạch các câu trả lời đó thành một đoạn văn. Sau khi áp dụng biện pháp rèn kỹ năng trả lời câu hỏi, học sinh viết các câu văn đã có những chuyển biến tích cực. Bài viết đã khắc phục được lỗi đặt dấu chấm, viết thiếu từ và câu không rõ nghĩa của học sinh Đỗ Bảo Khánh, lớp 2A5. 13 Bài viết đã khắc phục được lỗi đặt dấu chấm, dùng từ chưa phù hợp, viết thiếu từ và câu không rõ nghĩa của học sinh Hoàng Phương Linh, lớp 2A5. Bài viết đã khắc phục được lỗi đặt dấu chấm, viết thiếu từ và câu không rõ nghĩa của học sinh Nguyễn Phương Chi, lớp 2A5. 14 3.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy Trong quá trình giảng dạy phân môn Luyện viết đoạn hay rèn viết đoạn văn, tôi đã hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy theo từng bước sau: + Bước 1 : Chọn từ trung tâm hoặc hình ảnh, hình vẽ tượng trưng cho từ khóa. + Bước 2 : Vẽ nhánh chủ đề, nhánh lớn. + Bước 3 : Vẽ các nhánh con ( đây là các ý nhỏ trong nội dung chính ở bước 2). Vẽ sơ đồ tư duy giúp các em sẽ dễ dàng nắm bắt được trọng tâm của đề bài, có thể tập trung suy nghĩ những chỗ khó, dễ dàng hình dung bố cục của đoạn văn. Sơ đồ tư duy học sinh vẽ. 15 Sơ đồ tư duy học sinh vẽ. 3.4. Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh viết các câu văn giàu hình ảnh Để câu văn hay, giàu hình ảnh tôi hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng các biện pháp so sánh và nhân hóa trong bài văn. Thực ra các em cũng chưa thực sự hiểu các biện pháp nghệ thuật này, nhưng tôi hỗ trợ các em bằng cách: - Qua các bài đọc, các chủ điểm học có các câu thơ, câu văn, những hình ảnh so sánh, nhân hoá tôi đã khắc sâu cho các em. Gợi ý các em quan sát thêm thực tế, quan sát những sự vật quen thuộc xung quanh. 16 - Với những hình ảnh học sinh đã quan sát được tôi giúp các em suy nghĩ, liên tưởng tới những sự vật có đặc điểm gần giống với sự vật mình định tả, định kể sau đó so sánh với sự vật mình đang tả, đang kể. - Để sự vật, đối tượng (con vật, cây cối, đồ vật) trở nên sống động, hiện lên rõ nét hơn trong đoạn văn, ngoài việc hướng dẫn học sinh biết cách so sánh, tôi hướng dẫn học sinh biết cách chọn lựa những từ chỉ người để gọi con vật, đồ vật và tả hoạt động của con vật, đồ vật hoặc gọi con vật, đồ vật ấy bằng những từ chỉ người như: chú gà trống, chị gà mái, anh mèo mướp, bạn bút chì, chú gấu bông, bạn búp bê, chị áo mưa, bác ô, Khi đó con vật, đồ vật sẽ trở nên dễ thương, đáng yêu và gần gũi hơn rất nhiều. Ví dụ như bài đọc “Tớ là lê – gô” đồ chơi lê – gô tự xưng là tớ và gọi bạn. Đồ chơi lê – gô tự giới thiệu về gia đình mình cho các bạn. Qua đó đồ chơi lê – gô trở nên gần gũi hơn rất nhiều với các em học sinh. Để từ đó các em có sự liên tưởng khi viết đoạn văn tả về đồ chơi. Một số bài viết của các em học sinh khi áp dụng biện pháp trên: Bài viết của học sinh Nguyễn Xuân Giang, lớp 2A5. 17 Bài viết của học sinh Đặng Phương Thảo, lớp 2A5. 3.5. Biện pháp 5: Tăng cường chấm, chữa, nhận xét bài viết của học sinh Đây cũng là bước rất quan trọng trong việc dạy học sinh viết văn. Vì nhờ có bước này, học sinh mới thấy được những mặt ưu, tồn tại của mình từ đó khắc phục để lần sau các em làm tốt hơn. Tôi đã thực hiện như sau: - Nêu rõ những mặt ưu, khuyết điểm của học sinh trong việc thực hiện yêu cầu của đề về cách trình bày bài văn, bố cục, cách dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả - Hướng dẫn học sinh sửa lỗi chung về nội dung ( sai, thiếu ý hoặc chi tiết, ) và về hình thức ( bố cục, đặt câu, lỗi chính tả, ). - Trình chiếu bài viết của học sinh cho cả lớp cùng quan sát, chia sẻ và học tập. - Đọc câu văn hay, đoạn văn hay của học sinh trong lớp. 18 - Yêu cầu học sinh tự sửa bài cá nhân và viết lại đoạn văn cho hay hơn. - Thường xuyên động viên, khích lệ học sinh kịp thời để các em tích cực hơn và có sự cố gắng. Trình chiếu bài viết của học sinh. 3.6. Nêu gương, tuyên dương, khen ngợi học sinh Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học tôi đưa ra kế hoạch rèn luyện cho các em lớp mình phụ trách. Trao đổi với Ban đại diện cha mẹ học sinh cùng phối hợp để khen thưởng kịp thời, động viên các em. Nắm được tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên nên tôi thường xuyên khen ngợi, khích lệ các em kịp thời khi các em có sự tiến bộ để các em tích cực hơn và cố gắng hơn. Đối với các em viết đoạn văn tốt tôi thường xuyên nêu gương, tuyên dương và khen ngợi các em trước lớp để các em tiếp tục phát huy. 19 Hàng tháng, giữa học kì và cuối học kì tôi khen thưởng những em đã đạt nhiều thành tích, tiến bộ trong rèn luyện và học tập bằng một phần quà nhỏ hay thư khen. Đôi lúc tôi còn khen thưởng bằng một câu chuyện cô giáo kể...Các em đều rất vui và hãnh diện khi được khen, khi nhận được những món quà của cô giáo tặng. Vì thế các em càng không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt để cô giáo thưởng... Khi khen thưởng ngoài khen các em đạt nhiều thành tích, tiến bộ tôi còn chú ý đến những em chưa tiến bộ, có kết quả chưa cao bằng những lời động viên, khích lệ kịp thời để các em cố gắng hơn và không cảm thấy buồn, tủi thân, bị bỏ rơi... Đây là những hình thức động viên về tinh thần rất hữu ích và hiệu quả. Học sinh nhận phần thưởng thư khen
Tài liệu đính kèm:
skkn_phat_trien_ky_nang_viet_doan_van_cho_hoc_sinh_lop_2_gv.pdf



